Friday, 1 April 2011

Phân chia tài sản thừa kế theo luật


Thứ tư, 26/05/2010, 08:28 GMT+7
Hỏi: Gia đình tôi có 2 mảnh đất được ông bà nội để lại (sau khi cha mẹ tôi kết hôn) 1 ở TPHCM và 1 ở Xã An Bình, H.Dĩ An, T.Bình Dương. Mảnh đất ở TP.HCM thì được phường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mảnh đất ở tỉnh Bình Dương ba tôi đã tự ý đi làm và đứng tên 1 mình trên số đỏ được cấp vào 20/10/2009. Nay ông có ý định rao bán không cho mẹ và anh chị em tôi biết.

Vậy tôi xin hỏi Xã An Bình, H. Dĩ An, Bình Dương có cấp sai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không? và nếu mẹ tôi muốn khiếu nại việc này thì phải làm sao?

Mẹ tôi và các anh chị em tôi có được quyền gì trong mảnh đất này hay không?

Xin chân thành cảm ơn!

(chauhtm18@yahoo.com)

- Trả lời:

Do trong thư bạn không đề cập đến những đồng thừa kế gồm những ai, đất được chia trong trường hợp nào (thừa kế hay tặng, cho) nên chúng tôi chỉ có thể trả lời theo pháp luật hiện hành như sau:

1. Trường hợp mảnh đất trên là tài sản do ông bà bạn tặng cho riêng thì việc phân chia tài sản sẽ tiến hành theo hợp đồng tặng cho.

2. Trường hợp mảnh đất trên là tài sản có được từ việc nhận thừa kế thì việc phân chia phải tiến hành theo di chúc (nếu di chúc đó hợp pháp).

3. Trường hợp mảnh đất trên là tài sản có được từ việc nhận thừa kế nhưng vì người chết không để lại di chúc thì việc phân chia sẽ tiến hành theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự.

Nếu cả ba trường hợp nói trên, các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến vụ việc cho thấy cha bạn là người duy nhất được sở hữu mảnh đất đó thì đây là tài sản của cha bạn. Tuy nhiên vì trong thư bạn có đề cập việc mảnh đất được ông bà nội để lại sau khi cha mẹ bạn kết hôn, do đó theo quy định tại khoản 1, Điều 27 Luật Hôn nhân & Gia đình thì: “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng”.

Trong trường hợp này, việc chỉ có một người (chồng hoặc vợ) đứng tên trên GCN không làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu của người còn lại (nếu không có thỏa thuận khác). Vì vậy, theo chúng tôi mẹ bạn vẫn có quyền sở hữu đối với mảnh đất đó và khi cha bạn chuyển nhượng cho người khác thì bắt buộc phải có sự đồng ý của mẹ bạn.

Ngoài ra, việc cơ quan Nhà nước cấp GCN trong trường hợp này là hoàn toàn đúng với pháp luật.

Mua “lối đi” nhưng chủ cũ không chịu sang tên


Thứ tư, 26/05/2010, 08:21 GMT+7
Hỏi: Tháng 10-2003 tôi mua một phần đất của vợ chồng bên A. Lúc đó căn nhà (gồm phần nhà bên A + phần bán cho tôi + phần hẻm 1mx13m) chưa có sổ hồng, mua bán bằng giấy tay với cam kết phần đất hẻm sẽ là lối đi chung của hai nhà.

Tháng 2-2004 chủ nhà có sổ hồng và tách thửa cho tôi, phần đất hẻm chỉ để là phần đất của ông A tách ra làm hẻm cho ngôi nhà của tôi. Do nhu cầu, tôi đã mua luôn "con hẻm" đó bằng giấy tay (có vợ chồng bên A và một người làm chứng).

Nay tôi có ý định gộp phần đất hẻm đó về phần đất bên mình có được không? Làm sao để chuyển phần đất hẻm sang tên tôi? Có thể thực hiện việc mua bán theo bản hợp đồng tay tháng 2-2004? Nếu không thì tôi có thể khởi kiện ở đâu để đòi bồi thường thiệt hại?

Nếu không thể đứng tên phần đất hẻm, khi bên A xây dựng lấn chiếm hẻm thì tôi có quyền kiện không? Nếu bên A làm ống nước, điện, mở cửa sổ làm lối đi bị cản trở... thì tôi có được quyền đòi bồi thường?

(ngoquyenhighschool@...)

- Trả lời:

Theo thư của bà, thửa đất hẻm bà nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp cho bên A) và việc chuyển nhượng giữa hai bên có giấy tay mua bán.

Trong trường hợp như thế, theo khoản 2 điều 50 Luật đất đai, bà sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp. Sau khi có xác nhận nói trên, bà nộp hồ sơ gồm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ mua bán tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để được cấp sổ đỏ.

Theo khoản 2 điều 11 nghị định 84/2007/NĐ-CP, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất sẽ căn cứ vào hợp đồng hoặc giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất để yêu cầu chủ cũ nộp lại sổ đỏ hoặc ra quyết định hủy sổ đỏ đã cấp, đồng thời căn cứ vào đó để thực hiện tách thửa đất trước khi lập thủ tục cấp mới sổ đỏ cho bà (do bà chỉ nhận chuyển nhượng một phần trong toàn bộ lô đất của chủ cũ).

Trường hợp bên A tranh chấp phần đất hẻm với bà, UBND cấp xã sẽ tiến hành hòa giải trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc không hòa giải được (quá 30 ngày mà không tiến hành được buổi hòa giải) thì một trong hai bên có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân quận, huyện nơi có đất để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Khi đó bà cần cung cấp cho tòa các chứng cứ như giấy tờ mua bán trước kia, giấy nhận tiền của bên A, nội dung và lý do bên A chịu chừa phần đất đó để làm hẻm cho bà trong giấy chứng nhận.

Trân trọng kính chào.

Phân chia nhà sau ly hôn


Thứ bẩy, 22/05/2010, 08:51 GMT+7
Hỏi: Khi ly hôn, chị tôi nhận nuôi hai con và đồng ý để lại căn nhà của vợ chồng cho hai con. Giấy thỏa thuận về việc này được phường xác nhận.

Trong thời gian hai con chưa đủ tuổi đứng tên nhà thì chồng cũ của chị có quyền bán hay cho thuê nhà không? Chị tôi có thể yêu cầu tòa án xử cho chị và hai con được quyền ở trong nhà đó không?

Nguyễn Thị Huệ (mytn4768@yahoo.com)

- Trả lời:

Theo Điều 93 Luật Nhà ở, hợp đồng về nhà ở phải có những nội dung theo quy định và phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của UBND xã đối với nhà ở tại nông thôn. Bên nhận tặng cho nhà ở có trách nhiệm nộp hồ sơ để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Nếu không làm đúng quy định này thì giao dịch tặng cho nhà không có giá trị pháp lý. Trường hợp căn nhà vẫn còn thuộc quyền sở hữu chung của hai người thì một người không được tự ý cho thuê hay bán nhà. Nếu có tranh chấp về quyền sở hữu nhà, các bên có thể nộp đơn khởi kiện để được TAND cấp huyện xem xét, giải quyết.
 

Làm giả chữ ký trong Hợp đồng mua bán nhà


Thứ ba, 01/06/2010, 09:27 GMT+7
Hỏi: Vợ chồng tôi bán cho hàng xóm một căn nhà vào năm 2006. Do nhà chưa có chủ quyền, nên người mua đã giả mạo chữ ký của tôi trong một hợp đồng đề ngày bán là năm 2002.
Vậy hợp đồng này có giá trị không?  Mong Luật sư tư vấn cho tôi phải làm gì?

Nguyễn Sơn

- Trả lời:

Gia đình bạn đã chuyển nhượng thửa đất đó cho người hàng xóm nhưng chỉ chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định, để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hàng xóm đã giả mạo chữ ký của bạn thì hành vi này là trái quy định pháp luật nhưng chưa đến mức xử lý về hình sự mà sẽ bị xử phạt hành chính.

Về việc cấp Giấy chứng nhận và yêu cầu hủy: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên nên việc người hàng xóm của bạn tự tạo ra hợp đồng mua bán năm 2002 là đã vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng.

Bản Hợp đồng năm 2002 do người hàng xóm tự tạo ra không được coi là “Hợp đồng” theo đúng bản chất của nó mà chỉ là hợp đồng, tài liệu giả mạo. Do vậy không có giá trị pháp lý. Nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã sử dụng Hợp đồng giả mạo này làm căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì việc cấp Giấy chứng nhận này là trái quy định của pháp luật.

Vì vậy bạn có quyền khiếu nại đến chính cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó và yêu cầu thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận này. Tại điều 31 Luật Khiếu nại tố cáo quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc ngày biết được hành vi vi phạm. Nếu quá trình giải quyết có đủ căn cứ chứng minh việc cấp GCNQSD đất là sai (do hợp đồng giả mạo) thì Cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận sẽ ra quyết định thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận đó theo quy định tại điều 38 Luật khiếu nại tố cáo.

Ngoài ra nếu có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bạn còn có quyền khởi kiện ra Tòa án cấp quận, huyện nơi bị đơn cư trú (trừ trường hợp có yếu tố nước ngoài thì thẩm quyền là của TAND cấp tỉnh) để hủy hợp đồng giả mạo đó hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Nếu cơ quan cấp Giấy chứng nhận chưa ra quyết định thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận này thì Tòa án giải quyết vụ việc có thẩm quyền kiến nghị UBND đã cấp Giấy chứng nhận thu hồi và hủy Giấy chứng nhận đó.
 

Vi phạm hợp đồng đặt cọc


Thứ ba, 01/06/2010, 08:51 GMT+7
Hỏi: Tôi nhận đặt cọc của người mua 50 triệu đồng để làm sổ đỏ cho mảnh đất định bán, thỏa thuận 2 tháng sau sẽ giao đất.
Hết hạn trên, tôi không làm được sổ đỏ và cũng không có ý định bán nữa. Như vậy, tôi có vi phạm gì không?

Mong Luật sư tư vấn giúp.

- Trả lời:

 Theo thông tin cung cấp thì Ông/Bà đã vi phạm thỏa thuận đặt cọc với người mua. Việc giải quyết các tranh chấp này là phụ thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng và sự thương lượng giữa các bên. Vì không rõ thỏa thuận đặt cọc của Ông/Bà và người mua như thế nào nên Ông/Bà vui lòng tham khảo quy định sau đây về đặt cọc quy định tại Điều 358 Bộ Luật dân sự :

1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự. Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

2. Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc;

Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Như vậy, nếu Ông/Bà không muốn chuyển nhượng mảnh đất của mình có nghĩa là ông đã từ chối việc giao kết. Và phải trả cho bên mua số tiền như đã nêu ở trên.

Thời hạn xét xử là bao lâu?


Thứ sáu, 28/05/2010, 10:16 GMT+7
Hỏi: Gia đình tôi có một khu đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vừa qua đã bị người hàng xóm chiếm. Tôi đã làm đơn khởi kiện tại tòa án.
Sau gần một năm mời hai bên làm việc, cung cấp hồ sơ, đến nay tòa án vẫn chưa đưa vụ án ra xét xử mặc dù hồ sơ giấy tờ đã quá rõ ràng. Như vậy đúng hay sai?

(Chấn Phát, Chợ Lớn, TP.HCM)

- Trả lời:

Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

- Đối với các vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, nhôn nhân và gia đình… thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

- Đối với các vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại, về lao động… thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

- Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng thì phải đưa ra xét xử.

Như vậy, trường hợp của ông, thời hạn để đưa vụ án ra xét xử đã quá quy định. Ông có thể làm đơn khiếu nại yêu cầu tòa án nơi đang thụ lý hồ sơ vụ án sớm đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Chia thừa kế khi di chúc bị thất lạc


Thứ sáu, 28/05/2010, 08:24 GMT+7
Hỏi: Sau khi ông ngoại tôi mất hơn một tháng thì vợ chồng cậu út cho biết ông ngoại tôi có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản bao gồm nhà và đất cho vợ chồng cậu.

Má tôi và các dì yêu cầu cậu tôi đưa ra di chúc nhưng cậu tôi cho biết đã làm thất lạc. Hiện nay, cậu tôi đang rao bán căn nhà của ông ngoại tôi để lại. Vậy má tôi và các dì có thể yêu cầu chia di sản thừa kế của ông ngoại tôi hay không?

thuhong (nambac_01280@yahoo.com)

- Trả lời:

Theo Điều 666 Bộ luật Dân sự, kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.

Nếu di chúc bị thất lạc thì mẹ và các dì của bạn có thể yêu cầu phân chia di sản của người chết để lại.

Trả lại phần đất bị lấn chiếm


Thứ sáu, 28/05/2010, 08:13 GMT+7
Hỏi: Căn nhà số 2... đường 11, P.Phước Bình, Q.9 (TP.HCM) do tôi làm chủ sở hữu, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất ở. Trước đây trong giai đoạn kinh tế khó khăn, do nhu cầu sinh hoạt gia đình đông con cháu, tôi xây dựng nhà tạm theo nhiều giai đoạn.
Không có điều kiện tháo dỡ toàn bộ nhà (cũng như không có sự đồng thuận hợp tác của nhà giáp ranh), không thể xác định đúng ranh giới giữa nhà tôi và nhà bên cạnh (số 2+... - nhà trệt liên kế nhau), do vậy chiều ngang xây dựng phần đuôi nhà tôi không đúng kích thước đã được công nhận trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ở.

Trong thời điểm đó, nhà số 2+... không xây tường riêng theo đúng ranh giới mà sử dụng chính bức tường của nhà tôi để gác mái tôn, che chắn để sử dụng (gia đình tôi không hay biết). Cuối năm 2009, nhà số 2+... đã được bán lại cho chủ khác. Nay căn nhà này đã được tháo dỡ toàn bộ để xây dựng mới, chủ đầu tư đã cho xây cất sát tường nhà tôi và dĩ nhiên lấn chiếm luôn phần đất mà tôi đã được công nhận sở hữu hợp pháp.

Nhờ chuyên mục hỗ thủ tục pháp lý để được xác minh, trả lại phần đất bị xây cất lấn chiếm.

Pham Thanh Tam

- Trả lời:

Theo thư bạn trình bày, chủ nhà bên cạnh đã tự ý xây dựng lấn qua phần đất mà bạn đã được cấp chủ quyền. Nếu có đầy đủ cơ sở để chứng minh về việc bị lấn chiếm đất này, bạn có thể trình báo sự việc đến Ủy ban nhân dân phường Phước Bình.

Với hành vi sử dụng đất trong khi không được sự cho phép của người chủ sử dụng đất, người có hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai với hành vi lấn chiếm đất.

Ngoài việc bị phạt tiền (nếu còn trong thời hiệu xử phạt là hai năm kể từ khi có hành vi vi phạm) và bị buộc phải khôi phục hiện trạng của đất trước khi vi phạm.

Ngoài ra, bạn có thể đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra lại việc xây dựng của chủ nhà bên cạnh có đúng với giấy phép xây dựng đã được cấp hay không.

Không loại trừ trường hợp chủ nhà bên cạnh cũng chứng minh được quyền sử dụng đối với diện tích mà bạn cho rằng đã được cấp chủ quyền.

Khi đó, nếu các bên không thể tự thỏa thuận để giải quyết, một trong hai bên có thể khởi kiện vụ việc đến Tòa án nhân dân quận 9 để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trân trọng,

Tranh chấp hợp đồng đất đai


Thứ tư, 09/06/2010, 08:46 GMT+7
Hỏi: Năm 1997, anh em tôi có mua một mảnh đất nông nghiệp (có giấy xác nhận của xã) đứng tên tôi. Nhưng sau đó vì không có hộ khẩu tại địa phương nên tôi đã để em vợ tôi đứng tên làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vào năm 2008, anh em tôi đã bán cho ông Lê Văn Hùng mảnh đất nói trên (Chỉ có giấy thoả thuận mua bán giữa hai bên, không có xác nhận chính quyền địa phương) nhưng ông Hùng không trả tiền theo thoả thuận và đã kéo dài 3 năm.

Trong 3 năm đó ông Hùng đã tự toàn quyền chiếm dụng, khai phá bất hợp pháp trên mảnh đất của anh em tôi.
Vì điều kiện gia đình, em vợ tôi đã về quê và uỷ quyền cho tôi toàn quyền mua bán sử dụng với ông Hùng. Nhưng đến nay ông Hùng vẫn chưa thanh toán cho gia đình chúng tôi.

Vậy tôi có đủ tư cách pháp lý để kiện ông Hùng hay không? Và nếu được kiện thì thủ tục pháp lý như thế nào? Gửi cho cơ quan nào?

tranngocchau2@yahoo.com

- Trả lời:

Về vấn đề của anh, chúng tôi tư vấn như sau :

1. Đối với hợp đồng mua bán giữa anh em anh và ông Lê Văn Hùng do chưa được công chứng, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hợp đồng giữa hai bên không có giá trị pháp lí, mảnh đất đó vẫn thuộc quyền sở hữu của gia đình anh. Như vậy, anh có đủ tư cách pháp lí để kiện đòi ông Lê Văn Hùng trả lại đất

2. Những giấy tờ cần chuẩn bị :
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Giấy ủy quyền của em vợ

3. Cơ quan có thẩm quyền xử lí :
- Gửi đơn kiện lên UBND xã, phường nơi có mảnh đất đó để tiến hành hòa giải
- Nếu hòa giải không thành thì làm đơn khởi kiện lên Tòa án

Giải quyết tranh chấp ranh giới đất


Thứ hai, 07/06/2010, 08:21 GMT+7
Hỏi: Năm 2002 nhà tôi có mua một khu đất trồng cây công nghiệp lâu năm (cây điều), đến năm 2005 đất được UBND huyện cấp sổ đỏ và từ đó đến năm 2009 không bị tranh chấp hay có khiếu nại gì của các hộ xung quanh.

Cuối tháng 5-2010 một hộ bên cạnh khu đất đã chặt 1 số cây điều và tấp bờ ranh sang đất nhà tôi, nhìn bằng trực giác và đối chiếu với sổ đỏ thì thấy mất khoảng 1m.

Hiện tôi muốn xác định lại ranh giới và nhờ chính quyền can thiệp thì phải làm những thủ tục gì? Tiến hành ra sao? Nếu hộ dân đó chặt điều khi chưa có ý kiến của gia đình tôi thì có vi phạm pháp luật? Mong được tư vấn. Xin cảm ơn.

Phương (xã Thắng Hải, Hàm Tân, Bình Thuận)

- Trả lời:

Thửa đất của gia đình bạn đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận nên quyền sử dụng đất của gia đình bạn được pháp luật bảo vệ. Việc hộ bên cạnh tự ý hủy hoại tài sản trên đất (cây điều) và thay đổi ranh đất để lấn chiếm là hành vi trái pháp luật.

Trong trường hợp như thế, bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến UBND xã để yêu cầu hộ bên cạnh chấm dứt hành vi hủy hoại tài sản và xâm phạm ranh đất của gia đình bạn. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bạn có đơn yêu cầu, UBND cấp xã phải tổ chức buổi hòa giải để giải quyết tranh chấp.

Trong thời gian chờ UBND cấp xã giải quyết, nếu hộ bên cạnh tiếp tục có hành vi xâm phạm, bạn có thể áp dụng các biện pháp như quay phim, chụp hình, nhờ người dân xung quanh làm chứng, yêu cầu chính quyền địa phương, công an khu vực lập biên bản và xử phạt hành chính về hành vi lấn chiếm đất và hủy hoại tài sản của hộ bên cạnh.

Trường hợp việc hòa giải tại địa phương không thành hoặc quá thời hạn 30 ngày mà buổi hòa giải không được tổ chức hoặc không tổ chức được (có tổ chức hòa giải mà các bên có liên quan không đến dự), thì bạn có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân huyện để yêu cầu giải quyết việc tranh chấp ranh đất.

Khi khởi kiện, bạn cần cung cấp cho tòa án các chứng cứ như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bạn; xác nhận của UBND cấp xã về quá trình sử dụng đất của gia đình bạn; các hình ảnh, đoạn phim, sự làm chứng của người dân xung quanh và biên bản, quyết định xử phạt hành chính của chính quyền địa phương, công an khu khu vực… đối với hành vi xâm phạm của hộ bên cạnh.

Trân trọng.

Hợp đồng cho ở nhờ nhà ở


Thứ năm, 03/06/2010, 13:38 GMT+7
Hỏi: Tôi có một người bạn, tôi muốn cho họ ở nhờ trong nhà với điều kiện là khi nào tôi cần thì phải trả nhà lại cho tôi, tôi sẽ báo trước.
Nhưng để tránh chuyện phiền phức sau này, tôi định làm hợp đồng cho thuê nhà trong 3 năm và ra công chứng đầy đủ. Như vậy có được không?

(Nguyễn Thị Hạnh, Bình Thạnh, TP.HCM)

- Trả lời:

Theo Điều 119, 120 Luật Nhà ở quy định: Việc cho mượn, cho ở nhờ nhà ở thuộc sở hữu chung phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu nhà ở đó, trừ trường hợp cho mượn, cho ở nhờ phần nhà ở thuộc sở hữu riêng. Bên cho mượn nhà ở có quyền đòi lại nhà ở theo quy định của Bộ luật Dân sự. Các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung có thể thoả thuận cử người đại diện ký hợp đồng cho mượn, cho ở nhờ nhà ở và có quyền chấm dứt hợp đồng cho mượn, cho ở nhờ nhà ở khi thời hạn cho mượn, cho ở nhờ đã hết.


Điều 129 Bộ luật Dân sự quy định: Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.

Như vậy chủ nhà có quyền ký HĐ cho ở nhờ nhà ở và được thỏa thuận với bên ở nhờ về việc chấm dứt HĐ. Nếu thực tế là cho ở nhờ thì hai bên có thể làm HĐ cho ở nhờ và đi công chứng mà không cần phải lách luật bằng hình thức cho thuê nhà ở.

Quyền được hưởng tài sản thừa kế


Thứ năm, 03/06/2010, 08:37 GMT+7
Năm 1999 khi xây dựng gia đình, bố, mẹ chồng có cho chồng tôi một mảnh đất 35m2 chưa có “sổ đỏ”. Năm 2004 chồng tôi làm thủ tục kê khai và cho tôi đứng tên trong bản kê khai để làm “sổ đỏ”.

Trong lúc chưa được cấp sổ thì chồng tôi đột tử. “Sổ đỏ” vẫn ghi tên chồng tôi nhưng ghi thêm chữ “đã chết”.

Nay tôi đã xây nhà trên mảnh đất đó để ở. Do mâu thuẫn, bố, mẹ chồng tôi đòi lại đất đã cho chồng tôi để chia cho con riêng của chồng tôi. Tôi xin hỏi, con riêng chồng tôi có được hưởng tài sản của vợ chồng tôi hay không, bố mẹ chồng tôi có thể khởi kiện đòi được đất tôi đang ở hay không, cách chia như thế nào?                  

Bích Liên  (Thanh Trì-Hà Nội)

- Trả lời:

Chồng chị trước khi xây dựng gia đình được bố mẹ chồng cho đất, tài sản được xác định là tài sản riêng của anh ấy nhưng sau đó anh ấy đã kê khai tên chị để làm giấy chứng nhận QSD đất, tức là anh ấy đã tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung (điều 32, khoản 2 - Luật Hôn nhân Gia đình).

Mặt khác theo điều 27, Luật Hôn nhân và Gia đình thì trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ, chồng. Ở đây giấy chứng nhận QSD đất đã ghi đầy đủ theo luật định, mặc dù anh ấy đã mất vì vậy xác định tài sản (nhà, đất) mà anh chị hiện có là tài sản chung của anh chị, chị có quyền sở hữu ½ diện tích nhà đất hiện có cộng thên phần hưởng thừa kế của anh ấy.

Anh ấy chết nhưng thời hạn khởi kiện chia thừa kế vẫn còn nên căn cứ theo điều 676 - Bộ luật Dân sự qui định về hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ con đẻ, con nuôi được hưởng thừa kế. Vì vậy con chung, con riêng của anh ấy hoặc bố, mẹ anh ấy có quyền khởi kiện đòi chia tài sản thừa kế và những người trong hàng thừa kế thứ nhất (gồm có cả chị) được hưởng tài sản thừa kế phần của anh ấy, trị giá tài sản mà mỗi người được hưởng ngang nhau.

Làm giả chữ ký trong Hợp đồng mua bán nhà


Thứ ba, 01/06/2010, 09:27 GMT+7
Hỏi: Vợ chồng tôi bán cho hàng xóm một căn nhà vào năm 2006. Do nhà chưa có chủ quyền, nên người mua đã giả mạo chữ ký của tôi trong một hợp đồng đề ngày bán là năm 2002.
Vậy hợp đồng này có giá trị không?  Mong Luật sư tư vấn cho tôi phải làm gì?

Nguyễn Sơn

- Trả lời:

Gia đình bạn đã chuyển nhượng thửa đất đó cho người hàng xóm nhưng chỉ chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định, để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hàng xóm đã giả mạo chữ ký của bạn thì hành vi này là trái quy định pháp luật nhưng chưa đến mức xử lý về hình sự mà sẽ bị xử phạt hành chính.

Về việc cấp Giấy chứng nhận và yêu cầu hủy: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên nên việc người hàng xóm của bạn tự tạo ra hợp đồng mua bán năm 2002 là đã vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng.

Bản Hợp đồng năm 2002 do người hàng xóm tự tạo ra không được coi là “Hợp đồng” theo đúng bản chất của nó mà chỉ là hợp đồng, tài liệu giả mạo. Do vậy không có giá trị pháp lý. Nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã sử dụng Hợp đồng giả mạo này làm căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì việc cấp Giấy chứng nhận này là trái quy định của pháp luật.

Vì vậy bạn có quyền khiếu nại đến chính cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó và yêu cầu thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận này. Tại điều 31 Luật Khiếu nại tố cáo quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc ngày biết được hành vi vi phạm. Nếu quá trình giải quyết có đủ căn cứ chứng minh việc cấp GCNQSD đất là sai (do hợp đồng giả mạo) thì Cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận sẽ ra quyết định thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận đó theo quy định tại điều 38 Luật khiếu nại tố cáo.

Ngoài ra nếu có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bạn còn có quyền khởi kiện ra Tòa án cấp quận, huyện nơi bị đơn cư trú (trừ trường hợp có yếu tố nước ngoài thì thẩm quyền là của TAND cấp tỉnh) để hủy hợp đồng giả mạo đó hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Nếu cơ quan cấp Giấy chứng nhận chưa ra quyết định thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận này thì Tòa án giải quyết vụ việc có thẩm quyền kiến nghị UBND đã cấp Giấy chứng nhận thu hồi và hủy Giấy chứng nhận đó.
 

Tranh chấp đất đã mua


Thứ ba, 15/06/2010, 08:21 GMT+7
Hỏi: Trước đây, tôi có mua một miếng đất bằng giấy tay có đủ chữ ký của hai bên. Sau đó, em tôi xây nhà khoảng 20 m2, còn tôi xây nhà ở góc cuối.

Năm 1997, do tôi đi làm xa nên em tôi đã tự ý đi làm giấy đỏ mang tên em tôi. Nay tôi muốn em tôi phải chia lại cho tôi 1/2 diện tích đất thì có được không?
hoang nam (yeulamhai83@yahoo.com)
Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai, tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND.

Nếu không thể thỏa thuận với người em về quyền sử dụng đất mà người em đã được cấp giấy chứng nhận, bạn có thể gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức khác thực hiện việc hòa giải tranh chấp đất đai trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn. Sau đó, nếu UBND xã hòa giải không thành thì anh có thể nộp đơn khởi kiện đến TAND cấp huyện để được xem xét, giải quyết.

Có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế không?


Thứ hai, 14/06/2010, 08:27 GMT+7
Hỏi: Năm 1998 ông A chết. Năm 2006 bà B là vợ ông A được cấp “sổ đỏ” cho nhà đất mà bà đang sử dụng đứng tên bà B. Năm 2007 bà B chuyển nhượng nhà đất đó cho tôi tại Phòng công chứng Nhà nước và tôi đã sang tên trên “sổ đỏ” ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng.

Việc giao nhận tiền các con của bà B làm chứng. Năm 2009 bà B mất, nay các con bà B yêu cầu chia thừa kế nhà đất mà bà B đã bán cho tôi vì họ cho rằng việc bà B chuyển nhượng nhà đất mà không có chữ ký của họ là không đúng.

Vậy con của bà B có quyền yêu cầu chia thừa kế tài sản trên không? Việc chuyển nhượng nhà đất có bắt buộc phải có chữ ký của các con bà B không? Các con của bà B có quyền yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng mà bà B đã ký tại công chứng và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã sang tên cho tôi không?
N.V.L (Hà Nội)
-Trả lời:

Để trả lời các câu hỏi này cần phải làm rõ nguồn gốc nhà đất mà bà B đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nếu nhà đất hình thành sau khi ông B đã chết thì tài sản này thuộc về bà B và bà B có toàn quyền quyết định chuyển nhượng cho anh mà không cần phải có chữ ký của các con bà B. Nếu tài sản này là của chung vợ chồng ông A bà B thì sau khi ông A chết dù trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một mình bà B thì khi chuyển nhượng nhà đất này bắt buộc phải được sự nhất trí của các đồng thừa kế của ông A (theo hàng thừa kế của ông A) sau khi làm thủ tục khai nhận thừa kế.

Theo đó, các con của ông A có quyền yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần di sản của ông để lại trong khối tài sản chung của ông A và bà B nhưng phải trong thời hiệu yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự. Điều 645 - BLDS quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là 10 năm, hết thời hạn đó mà không có yêu cầu chia thừa kế thì người thừa kế cũng mất quyền yêu cầu. Ông A chết từ năm 1998 đến nay thời hiệu yêu cầu tòa giải quyết chia thừa kế không còn, do đó các con của ông A không còn quyền yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản của ông A để lại.

Các con của bà B cũng không còn quyền yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng mà bà B đã ký tại công chứng và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã sang tên cho anh vì tài sản này đã được chuyển nhượng và đăng ký quyền sử dụng từ năm 2007, nên thời hạn để yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng (2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân bị xâm phạm-ngày các con của ông A bà B chứng kiến giao nhận tiền chuyển nhượng nhà đất) và thời hạn khiếu nại để hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (90 ngày-kể từ ngày anh đăng ký sang tên QSDĐ) cũng không còn.

Hợp thức hóa phần đất giáp ranh


Thứ hai, 21/06/2010, 08:46 GMT+7
Hỏi: Năm 2008 tôi có mua một căn nhà và cư ngụ từ đó đến nay. Khu vực tôi đang ở không thuộc diện quy hoạch. Trong sổ đỏ thể hiện diện tích sử dụng 81,4m2 và diện tích không công nhận (ngoài ranh giấy phép xây dựng hợp thức hóa) 6m2.

6m2 này là diện tích đất giáp với tường nhà bên cạnh, có ghi trong sổ đỏ của tôi và chủ cũ cũng đã sử dụng từ năm 1983 đến nay, không xảy ra tranh chấp nào (có giấy xác nhận của tổ dân phố).

Hiện tôi đã nộp hồ sơ xin hợp thức hóa phần đất 6m2 không công nhận trên và được UBND Q.Tân Bình (TP.HCM) thông báo: ngoài những giấy tờ hợp lệ tôi còn thiếu giấy xác nhận ranh giới không tranh chấp của nhà bên cạnh. Nếu không có giấy xác nhận trên, UBND quận không giải quyết, nhưng chủ nhà bên cạnh hiện không chịu xác nhận với lý do muốn lấy sang.

Nếu chủ nhà bên cạnh nhất định không ký xác nhận dù 6m2 này không thuộc quyền sử dụng đất của họ thì làm sao để tôi được hợp thức hóa? Với trường hợp trên phải giải quyết thế nào? Xin cảm ơn.

Goldsun Co.,Ltd.

- Trả lời:

Việc xác nhận về tình trạng đất không có tranh chấp của các hộ liền kề là một thủ tục bắt buộc.

Vậy, nếu các hộ tiếp giáp với thửa đất bạn đang sử dụng không chấp nhận xác nhận cho bạn về tình trạng đất không có tranh chấp thì bạn có thể làm đơn yêu cầu UBND cấp phường/xã nơi có đất tiến hành thủ tục theo pháp luật quy định để hòa giải giữa bạn và những hộ liền kề.

Phân chia tài sản thừa kế không di chúc


Thứ hai, 21/06/2010, 08:29 GMT+7
Hỏi: Mẹ tôi đã mất năm 1988 không để lại di chúc. Năm 2010 ba tôi mất cũng không để lại di chúc. Ba mẹ tôi để lại cho các anh em tôi căn nhà có diện tích khoảng 50m2.
Từ khi ba mẹ tôi mất, trong các anh em tôi có vài người muốn để căn nhà lại cho 1 người em nhưng vài người, trong đó có tôi, không đồng ý. Trong một lần bàn bạc, hai bên không thống nhất được nên xảy ra tranh cãi.

Vậy tôi có thể lấy một phần tài sản thừa kế của mình ngay bây giờ không? Thời hiệu khởi kiện thừa kế có được tính đến trong trường hợp này không? Nếu muốn lấy được tôi phải làm những thủ tục gì? gồm những đơn nào và gửi cho ai?

Trong trường hợp này, liệu anh chị tôi có thể tự làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người em đó không? Nếu xảy ra trường hợp đó tôi phải xử lý như thế nào? Xin chân thành cảm ơn!

(hoangthuanh@ymail.com)

- Trả lời:

Trước hết, chúng ta cần để xác định căn nhà nói trên có phải là di sản dùng vào việc thờ cúng hay không. Quy định của pháp luật về việc này như sau:

Điều 670 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định: Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng.

Theo nội dung thư bạn gửi, chúng tôi cho rằng căn nhà nói trên không phải là di sản thờ cúng.

Mặt khác quy định của pháp luật về thừa kế có quy định việc thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Vì cha mẹ bạn chết mà không để lại di chúc, căn nhà mà cha mẹ bạn để lại sẽ được phân chia thừa kế theo pháp luật (khoản 1 Điều 675 BLDS).

Căn cứ khoản 1 Điều 676 BLDS thì “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”; và khoản 2 điều 676 BLDS qui định: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.

Về thời hiệu khởi kiện, tại Điều 645 BLDS quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Theo chúng tôi, trước hết bạn và những người đồng thừa kế cần phải tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có cơ sở xác định rõ các đồng thừa kế đối với căn nhà này.

Tranh chấp mua bán đất


Thứ năm, 17/06/2010, 07:24 GMT+7
Hỏi: Tôi có mua một mảnh đất hơn 97m2 của ông A bà B (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Ông A có vợ cả là bà C (đã mất hơn 10 năm nay) và có 5 người con riêng. Hợp đồng của chúng tôi đã được UBND phường chứng nhận.
Trong hợp đồng tôi phải giao tiền là 3 lần (ngay sau khi ký hợp đồng; 15 ngày sau khi ký hợp đồng và khi ông A bà B giao giấy chứng nhận của mảnh đất mang tên tôi).

Tôi đã thực hiện được 2 lần giao tiền với số tiền là 80 triệu. Nhưng khi đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi thì các con của bà cả không cho làm, gây khó khăn cho ông A và bà B không cho ông A và bà B bán cho tôi. Ông A bà B đã họp gia đình có đại diện trưởng khu đến và chấp nhận chia một nửa cho con của bà cả nhưng các con vẫn không chịu để chúng tôi làm thủ tục sang tên. Đến nay thì ông bà A,B lại không muốn bán cho tôi nữa.

Trong hợp đồng ông A bà B có cam kết với tôi là đất không tranh chấp và bên nào không thực hiện theo hợp đồng thì sẽ phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Như vậy, hợp đồng của tôi có giá trị pháp lý không? ông bà A,B tự ý chấm dứt hợp đồng với tôi như vậy thì phải bồi thường tôi như thế nào?

Xin chân thành cảm ơn!

(mailto:hoguom1501@yahoo.com.au)

- Trả lời:

Với những thông tin bạn gửi trong thư, chúng tôi xin đưa ý kiến tư vấn như sau:

1. Nếu 5 người con của ông A và bà C là những người đồng thừa kế đối với mảnh đất này (Mảnh đất được thiết lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông A và bà C):

Căn cứ khoản 1 điều 106 Luật Đất Đai quy định: Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Theo đó, việc mua bán đất giữa Ông A, Bà B và bạn sẽ bị xem là vô hiệu vì 5 người con của Ông A và Bà C vẫn có quyền sở hữu đối với mảnh đất đó.

Khi hợp đồng mua bán đất nói trên bị cơ quan Tòa án tuyên là vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Theo đó Ông A, Bà B phải hoàn lại cho bạn số tiền đã nhận và các khoản bồi thường nếu gia đình bạn chứng minh được (ví dụ như các chi phí hợp lý đầu tư làm tăng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản, công trình, cây lâu năm…)

2. Nếu 5 người con của Ông A và Bà C không phải là những người đồng thừa kế đối với mảnh đất này (Mảnh đất được thiết lập sau thời kỳ hôn nhân giữa Ông A và Bà C). Như vậy, mảnh đất trên không có tranh chấp và hợp đồng mua bán đất giữa bạn và Ông A, Bà B vẫn có hiệu lực.

Việc xác định bồi thường trong trường hợp Ông A và Bà B tự ý chấm dứt hợp đồng sẽ căn cứ theo các thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết, cơ quan để giải quyết tranh chấp là Tòa án cấp huyện nơi mảnh đất tọa lạc.

Chiếm dụng đất của người khác


Thứ ba, 15/06/2010, 08:51 GMT+7
Hỏi: Tôi mua mảnh đất 183m2 và đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất từ năm 2006, giấy chứng nhận mang tên tôi.
Do không có điều kiện ở gần để trông nom đất, gần đây tôi phát hiện H ở gần đó đã làm nhà, xây tường bao quanh trên đất của tôi. Tôi có hỏi thì H trả lời đã mua đất bằng giấy viết tay với một người khác, tôi xuất trình giấy chứng nhận QSD đất yêu cầu H trả lại đất cho tôi nhưng H không trả.

Tôi xin hỏi người chiếm đất của tôi, họ phạm tội gì? Tôi phải làm gì để bảo vệ quyền về tài sản của mình?

Nguyễn Văn M (Chương Mỹ)

- Trả lời:

Mảnh đất của bạn đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất, như vậy đồng nghĩa với việc Nhà nước đã công nhận quyền đối với tài sản của bạn, quyền đó được pháp luật bảo vệ .

Việc mua bán đất theo quy định của pháp luật phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực, để công nhận quyền sở hữu của người mua được tính từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó, vì vậy nếu H nói rằng mua đất bằng giấy viết tay không có công chứng chứng thực thì khẳng định đây là hợp đồng không hợp pháp, đồng thời H không thể lấy lý do đã mua hoặc nại ra việc đã mua để khỏa lấp hành vi phạm pháp của mình mà không trả lại đất cho bạn là điều pháp luật không chấp nhận. 

Đến nay H vẫn cố tình ngang nhiên chiếm dụng đất của bạn, xây nhà, xây tường, trong khi đó đất của bạn có đầy đủ giấy tờ hợp pháp, yêu cầu trả lại đất nhưng H không trả lại cho bạn mà vẫn sử dụng một cách bất hợp pháp, hành vi của H là công khai chiếm đoạt tài sản, hành vi này thể hiện coi thường pháp luật. Nếu H có đủ năng lực hành vi dân sự thì hành vi của H đã cấu thành tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, tội phạm được quy định tại điều 137 - Bộ luật Hình sự. Nếu như H chứng minh được H mua của người khác bằng giấy tờ viết tay để rồi không trả lại đất, thì H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm quy định tại điều 250 - Bộ luật Hình sự.

Bạn cần có đơn trình báo đến cơ quan công an  để được giải quyết.

Tranh chấp giữa các hộ liền kề


Thứ sáu, 02/07/2010, 09:05 GMT+7
Hỏi: Nhà tôi và nhà ông N vốn là hàng xóm. Từ khi nhà ông N sửa nhà và lợp mái tôn dốc vào tường nhà tôi thì mỗi khi trời mưa, nước từ mái tôn nhà ông ấy lại chảy sang tường nhà tôi và thấm vào bên trong phòng (trước kia không bị hiện tượng này).
Tôi đã yêu cầu ông N phải làm đường ống thoát nước mưa thì ông N cho rằng do tường nhà tôi chứ không do mái tôn nhà ông đổ xuống. Vì việc này mà hai gia đình thường xích mích.

Vậy xin hỏi tôi có quyền yêu cầu ông N phải làm đường dẫn, nước mưa không? Nếu ông N vẫn không chịu làm đường dẫn tôi có thể tự phá dỡ phần mái này được không?

NTD (Hoàn Kiếm, Hà Nội)

- Trả lời:

Bà hoàn toàn có quyền yêu cầu ông N phải làm đường ống dẫn nước mưa ra cống chung để không ảnh hưởng đến nhà bà vì trước khi ông N lợp mái tôn này nhà bà không bị thấm. Vì vậy, nguyên nhân việc nhà bà bị thấm khi trời mưa là do nước mưa chảy từ mái tôn nhà ông N sang. Ông N phải có nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa theo quy định tại Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo quy định này thì chủ sở hữu nhà phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề.

Bà có thể giải thích để ông N hiểu được nghĩa vụ của mình vì hai gia đình trước kia đã là hàng xóm thân thiết hoặc thông qua họp tổ dân phố nhờ mọi người cùng tham gia góp ý cho ông N. Nếu ông N không chịu thực hiện nghĩa vụ, lúc đó bà có thể nhờ sự can thiệp của chính quyền địa phương nơi bà đang sinh sống chứ không nên phá dỡ tài sản của người khác sẽ dẫn đến những mâu thuẫn trầm trọng hơn.